Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

Kỳ lạ chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh

         Như linh tính, biết mình sẽ hy sinh, người lính đó đã gửi về gia đình một bức thư nói rõ nơi chôn cất. Sau bao nhiêu năm, lần theo thông tin ấy, gia đình đã tìm được hài cốt của anh.
          Đợt vào thăm thành cổ Quảng Trị, tôi nhớ lời dặn của những người lính: Hãy bước nhẹ trên từng vạt cỏ, bởi nơi ấy có xương máu thân thể của những người lính đã ngã xuống. Như sợ các anh đau, chúng tôi luôn bước thật nhẹ. Nhưng xúc động hơn, khi chúng tôi vào thăm khu di tích thành cổ Quảng Trị được đọc một bức thư. Bức thư đã khiến tôi và bao nhiêu người khác rơi lệ. Bức thư của một người lính đã hy sinh được anh viết trước khi mất 3 tháng giữa những ngày bom đạn khốc liệt nhất ở Quảng Trị.

Liệt Sĩ Lê Văn Huỳnh và bức thư di vật

        Anh là liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, ở xã Lê Lợi (Kiến Xương - Thái Bình). Bức thư đó anh viết để gửi cho người mẹ già đang mong ngóng đợi anh và cho người vợ cưới được 7 ngày đã phải xa chồng. Nội dung thư viết:

                                                                             “Quảng Trị, ngày 11-9-1972
        Toàn gia đình kính thương!
        Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”, thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột. 
         Mẹ kính mến! Thư này tới mẹ là con đã đi xa rồi. Chắc mẹ đau buồn lắm. Lớn lên  trong vòng tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành, giờ con đi xa là để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời.
Con rất hiểu đời mẹ đã đau khổ nhiều, nhưng mẹ hãy lau nước mắt để sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ. Coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau…
         Em yêu thương. Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất. Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh….
         Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này, nhưng em hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Anh chỉ mong em khỏe, yêu đời, nếu có điều kiện, hãy cứ đi bước nữa, vì em còn trẻ lắm. Anh chỉ mong em sẽ luôn nhớ đến anh và hãy thắp hương cho anh vào ngày giỗ anh. Hãy là người con dâu hiếu thảo của mẹ, là người em ngoan của các anh chị anh…
        Sau này hòa bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nam, hãy mang hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2-1-1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó… Em sẽ đọc lá thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi truy điệu lịch sử này….
         Chào mẹ, chào em, chào tất cả gia đình và làng xóm quê hương.
                                     Ký tên:  Lê Văn Huỳnh…..”
         Lá thư này được liệt sỹ Lê Văn Huỳnh viết vào một ngày tháng 9-1972, trước ngày anh hy sinh hơn 3 tháng. Không ai hiểu tại sao anh biết trước cái chết của mình, biết tường tận nơi mình sẽ nằm xuống…
        Tôi quyết định tìm về Thái Bình để gặp “người phụ nữ đợi chờ” trong bức thư của người liệt sỹ. Bà vừa bước sang tuổi 65, tên là Đặng Thị Xơ - người cùng xã với liệt sỹ Huỳnh. Mối tình đẹp của hai người đã trở thành huyền thoại ở xã Lê Lợi cho đến hôm nay. Ngày ấy, chàng sinh viên ĐH Xây dựng vừa đẹp trai lại thông minh phải lòng một cô gái trẻ đẹp nhất làng. Trong những người đàn ông theo đuổi chị, chị chỉ yêu và chọn anh. Gia đình hai bên bao nhiêu lần giục cưới nhưng chị đều lần lữa vì sợ ảnh hưởng đến việc học hành của anh.

Bà Xơ - Vợ Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh

        Tết dương lịch năm 1972, anh từ Hà Nội trở về thăm nhà và thông báo với chị: anh sắp lên đường nhập ngũ. Vậy là họ quyết định cưới nhau trong vài ngày nghỉ ngắn ngủi đó. Một đám cưới nho nhỏ nhưng ấm cúng diễn ra vào ngày 2-1-1972. Sau đám cưới, anh được ở nhà 3 ngày rồi tiếp tục lên trường. Tết Nguyên đán năm đó, anh được nghỉ và về nhà thêm 3 ngày nữa là 6. Trước ngày lên đường nhập ngũ, anh tranh thủ thăm nhà được 1 ngày rồi vĩnh viễn không bao giờ trở về. Tính từ ngày cưới cho đến lúc anh hy sinh, vợ chồng anh chị ở bên nhau trọn vẹn được 7 ngày, 7 đêm.
        Lần cuối cùng gặp nhau, anh đã nắm tay chị dặn dò: “Mình là vợ chồng. Anh đi chiến đấu, sau này ngộ nhỡ anh trở về không lành lặn, xin em đừng hắt hủi anh, em nhé”. Chị nghe anh nói mà ứa nước mắt: “Dù anh có thế nào đi chăng nữa, em vẫn là vợ của anh trọn đời”. 
        Nhưng chị không bao giờ ngờ rằng, ngay cả việc được đón anh trở về, dù không lành lặn, cũng trở thành một ước mơ quá đỗi xa vời đối với cuộc đời chị. Sau ngày nhập ngũ, anh theo đơn vị vào chiến trường Quảng Trị, chiến trường khốc liệt nhất những năm 1972-1973. Và anh đã mãi mãi nằm lại nơi đó.
        Trong những lá thư anh gửi về từ chiến trường, bao giờ cũng có một phần gửi mẹ, một phần gửi cho các anh chị trong nhà, một phần viết riêng cho chị. Chị nhận được thư anh đều đặn mỗi tháng. Nhưng sau lá thư tháng 12-1972, ông bưu tá vẫn đạp xe mang thư về làng không bao giờ dừng lại ở trước cửa nhà chị nữa. Từ đó, chị mất tin anh. 
        Trái tim người vợ mách bảo chị về những điều chẳng lành, những điều mà chị không dám nói ra với bất cứ ai nhưng vẫn hiểu nó đang ngày càng trở nên hiện thực đối với cuộc đời chị. 
        Sau Tết Nguyên đán năm đó, giấy báo tử của anh về đến địa phương. Sợ chị không chịu nổi cú sốc đó, người chị dâu khi đó đang làm ở xã, đã xin hoãn báo tử 3 tháng. Đến tháng 5-1973, giấy báo tử mới chính thức được gửi về nhà chị, cùng toàn bộ quân tư trang của anh. Anh hy sinh vào ngày 2-1-1973, đúng kỷ niệm tròn 1 năm ngày cưới. Và những ngày 2-1 sau này là những ngày chị buồn nhất, khóc nhiều nhất và cũng thương anh thật nhiều. Nhưng thương anh bao nhiêu, chị tự hào bấy nhiêu. Tự hào vì anh là người lính dũng cảm, tự hào vì anh đã chết vì lý tưởng cao đẹp.
        Bức thư viết tháng 9-1972 nhận được như lời trăng trối. Nhưng mãi đến năm 2002, chị mới có thể lên đường và đúng như bức thư anh viết, mộ anh ở đó, ở thôn Nhan Biều, trên mộ có một tấm tôn ghi rõ tên anh: Liệt sỹ Lê Văn Huỳnh.
        Bà Đặng Thị Xơ bảo: “Lúc này tôi nhớ đến lời anh viết trong bức thư “hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại” và cảm nhận như thấy mình và anh trong ngày mới cưới. Tôi ôm hài cốt anh, bao nhiêu năm xa cách, tôi lại được ôm anh. Chỉ có điều, tôi khóc nhiều hơn, còn anh thì lặng lẽ. Tôi biết rằng, yêu anh – yêu một người chiến sỹ, yêu một liệt sỹ là chấp nhận sống cuộc đời chờ đợi”.

                                                  Thông tin của Báo Mới

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

Trường hợp nào được khất hầu, miễn hầu

       Lời ban Biên tập: Đây là một vấn đề mà nhiều thanh đồng còn băn khoăn. Chúng tôi xin biên tập một bài viết của đồng thầy Huyền Tích cho bản hội của mình để các bạn tham khảo.
     
         Nam Mô Đô Đàn Giáo Chủ Chính Pháp Minh Vương. 
         Nam Mô Tam Tòa Thánh Mẫu Đại Từ Tôn.
         Đệ tử Huyền Tích con bao năm trăn trở vì Đạo nay cúi xin Mẫu Mẹ ban ân khai tâm khai tuệ cho con,  nhờ hồng ân Thánh Mẫu gia hộ sang tai khai tuệ giáng bút.  Nay đưa lên thông bạch cho các chúng đệ tử trong bản hội, lấy đó mà tu theo, để tâm an sớm được yên căn.
        Dưới đây là những trường hợp đã ra mở phủ rồi, những các thủ nhang Tân Thanh Đồng được miễn hầu, khất hầu (khi vào các lệ kì phải hầu hàng năm hoặc tạ đàn 3 năm 9 năm 12 năm) mà vẫn yên căn, yên mệnh, không bị lỗi tâm; thậm chí còn tăng trưởng phúc tuệ.
    Có năm sự việc được khất hầu, miễn hầu ở đây :
       1. Khi đến lệ kỳ phải hầu tạ, mà kinh tế khó khăn công việc và gia đình chưa thuận chưa ổn định, thì sẽ được đặc ân Thánh Đức cho miễn hầu; không hầu không có lỗi. 
        Cũng như nhân dân mất mùa, đất nước phải chịu thiên tai, Bách Dân chịu khổ, Nhà Nước còn miễn thuế cứu trợ Nhân dân. Xưa kia các bậc Minh Vương Mẫu Nghi Thiên hạ vẫn thường làm để cứu trợ con dân của mình trong hoạn nạn thiên tai, còn miễn cả thuế ba năm cho bách gia trăm họ. Khi Nhân dân được mùa biết ơn, đóng góp tô thuế đất nước phồn thịnh, người dân ăn mừng tạ ơn Trời Đất, biết ơn bề trên Thánh Thần mà đem lễ vật hiến tế nhớ ơn Tiên Tổ. Trên hợp lẽ Trời Đất, dưới thuận lòng người thật phúc biết bao.
        Việc Tiên Cung Tiên Thánh Âm phần xưa và nay cũng thế. Đạo Mẫu là Đạo phù Quốc an dân cứu khổ độ mê. Những thủ nhang Tân Thanh Đồng khi không có điều kiện kinh tế cũng được đặc ân Mẫu cho miễn hầu,  không có gì phải lo lắng mà động loạn tâm. Đừng nói không hầu Thánh phạt, rồi vu cho Thánh là bắt hầu là mắc lỗi khẩu nghiệp,  rồi tâm sinh phiền não bất an mà khó yên căn yên mệnh.
       Khi nào có điều kiện kinh tế, hoàn cảnh phù hợp đủ duyên mà muốn hầu, chúng ta tu thiết lễ vật tạ ơn Thánh Đức bác ghế loan giá. Thuận duyên hợp lẽ Trời Đất và lòng người thì thật là phúc cho Đạo cho Đời.
       2. Khi đến lệ kỳ phải hầu tạ mà bị bệnh Trần đang điều trị hoặc mang thai đang nuôi con bé, không đủ sức khỏe, niên cao... tinh thần không được minh mẫn cũng đều được đặc ân Thánh Đức ban lộc và miễn hầu.  
      Không chỉ riêng việc âm lính ghế Bốn Phủ được miễn , mà dù là việc trần cũng vậy bất kể ai từ công Nhân viên chức đến người đang làm nhiệm vụ nơi chiến trường hải đảo , khi lâm trọng bệnh cũng được nghỉ ngơi điều trị chăm sóc đặc biệt ! " Ốm Tha...."
Vậy trường hợp mắc bệnh trần này cũng được đặc ân miễn hầu không có lỗi ! Khi tinh thần sức khỏe tốt đủ duyên ta hầu sẽ làm đẹp Danh đẹp diện nhà Thánh , thì đó cũng là phúc cho mình và Đẹp cho Đạo !
        3. Khi đến lệ kỳ phải hầu tạ mà ai đó phải chịu đại tang của song thân Phụ Mẫu thì các tân thanh Đồng cũng được đặc ân miễn ba năm không phải hầu. 
        Xưa có làm quan đến bậc tể tướng cũng phải về chịu tang Cha Mẹ ba năm. Trong ba năm lệnh vua không tới cửa ,... trừ những người đi xứ, và ở nơi biên ải ...
        Người tu Đạo lấy Hạnh Hiếu làm đầu trong ba năm chịu tang không phải hầu.
        Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất, ngài cũng thủ mộ báo hiếu song thân. Mãn tang sau ba năm mới đi vân du khắp nơi, làm các việc tâm đức giúp bách gia trăm họ, an dân hộ quốc phù trần rồi hóa sinh. Hiếu Hạnh đó của ThánhMmẫu để lại ngàn đời vẫn trường tồn sáng mãi.
        Hay như Đại Sư Tuyên Hóa vang danh là hiếu tử, người đời gọi ngài là " Bạch Hiếu Tử ". Khi mẹ ngài mất, ngài xin Sư Phụ về chịu tang tại mộ Mẹ ngài. Suốt ba năm ngài Tu Đạo tại lều cạnh mộ Mẹ, ngày ăn một bữa đêm ngủ ngồi. Mãn tang ba năm ngài lại quay về Chùa tu. Sau này Ngài đã trở thành một vị Sư đắc Quả Phật Đạo, để lại tiếng thơm muôn thủa người đời lấy đó mà tu theo hạnh ngài .
       "Đạo lấy Nhân Lễ Nghĩa Tri Tín làm đầu", "Công dung ngôn hạnh, tam tòng tứ đức". Người làm thầy tu Đạo, những việc có lợi cho Đất Nước xã hội, có lợi cho bách gia trăm họ,  có lợi cho Đạo thì làm. Phàm những việc bất lợi cho Đạo, bất lợi cho bách gia, bất lợi cho Đất Nước xã hội, chỉ có lợi cho riêng Thầy không có lợi cho đệ tử tuyệt đối không được làm.
       Những ai chịu tang đều được đặc ân bãi miễn khất hầu.  "Còn khi muốn xả tang xin hầu trước ba năm phải biết lệ xả tang ...".
       4. Khi đến lệ kỳ phải hầu tạ, các trường hợp những người đi nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ Quốc , người đi du học, người đi lao động công tác, hoặc Việt Kiều định cư ở nước ngoài ... được miễn hầu, khất hầu.
         Đó là những người mang lại kinh tế văn hóa chính trị cho Đất Nước và xã hội, cho gia đình, làm đẹp cho Quê Hương Tổ Quốc , làm đẹp cho đời cho Đạo đến kì hầu tạ chưa kịp về, thì đều được bãi miễn, khất Hầu. Thầy ở nơi chốn tổ khi đến lệ kì hầu tạ, nếu đệ tử không về được mà có nhời với thầy,  thầy phải có trách nhiệm giúp con nhang viết sớ, kêu thay lạy đỡ cho đệ tử khi vắng mặt khuất nhời.
      5. Những thủ nhang, tân Thanh Đồng, lính ghế Bốn Phủ có công bảo tồn giữ gìn Đạo Mẫu, hoằng dương Đạo Mẫu,  chia sẻ kiến thức cho bạn Đạo, giúp đỡ người khác tu tập, trợ duyên tác phúc, làm các việc phúc việc thiện, làm cho tốt Đời đẹp Đạo. Công đức đó thật không thể nghĩ bàn " Bất khả tư nghì công Đức". Người như thế sẽ nhận được Hồng Ân Thánh Đức. Công đức này gấp trăm nghìn lần việc hầu, việc hầu sẽ không còn quan trọng nữa. Người như thế đã được hưởng đặc ân của nhà Thánh, được khai Tuệ ban phúc gia hộ.
        Này Huyền Tích thông bạch cho các chúng đệ tử trong bản hội lấy đó mà an tâm tu trì.  Khi không đủ duyên để hầu, không phải lo lắng mà tâm sinh bất an loạn động. Này lấy bài này làm pháp môn cho bản hội, nhớ đọc cho thuộc cho kĩ.

                        Huyền Tích, tại núi Ngai Vàng Thanh Hà : Ngày 1/12 -  Đinh Dậu niên.

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

Mỗi năm thanh đồng phải hầu mấy vấn là đủ.

        Lời ban biên tập: Đó là câu hỏi mà mọi thanh đồng đều băn khoăn. Chúng tôi xin trích đăng ý kiến của một đồng thày tâm đức có nhiều nghiên cứu về lối đồng cổ của các cụ ngày xưa để các bạn cùng nghiên cứu, tham khảo sao tu, hầu cho đúng đường, đúng đạo. 

        Nhiều người nhắn tin cho Huyền Tích hỏi cùng một câu hỏi là: " Có người nói một năm phải hai vấn, người bảo phải ba vấn thế này thế kia không biết đâu mà lần.... ". Nay xin mạn phép viết đôi câu để chia sẻ.

       Thưa các bạn: Đạo mà chưa thông, tâm lại chưa an, thì hầu cả đời vẫn chưa đủ, một năm hầu đến 12 vấn nhiều hơn thế nữa vẫn chưa đủ, bán nhà bán đất đi hầu cũng chưa đủ ạ.
   "Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa "
       Thứ mà dâng lên cúng Thánh tốt nhất đó là Tâm. Có Tâm, có Phúc, có Tuệ thì đi lễ mới có phúc có lộc. Vô Tâm, vô Phúc, vô Tuệ, chỉ nghĩ đến hầu, đến sắm lễ thì vô Phúc, vô Lộc.
       Không có Tâm, không có Trí Tuệ thì đi lễ, đi hầu chỉ làm xấu thêm đạo, và là cái cớ cho kẻ ngoại đạo soi mói và tìm cách chia rẽ đả kích phá Đạo Mẫu.
       Có Tâm mà cuồng tín quá, u mê quá thì càng làm xấu Đạo, hủy hoại Đạo, khó yên căn, gia chung càng khó yên. Tâm phải đi với Tuệ. Phước Tuệ song tu là vậy.


       Khi mở phủ xong không nhất thiết phải hầu tạ bách nhật. Vì đó không phải là lệ bắt buộc, bây giờ mới phát sinh thêm nên chúng ta không phải băn khoăn lo lắng. Sau đàn lễ mà có Phát Tấu, lệ chỉ có Tam Nhật thành tâm là tạ sứ giả các ngài đi đưa công văn sớ trạng đi các cung các cửa. Sau ba ngày các ngài mới về thì thành tâm chay, mặn, hoa quả, rượu, thịt tùy tâm tạ đàn...
       Đồng nghèo lính khó hàng năm không nhất thiết phải hầu. (Ban biên tập bổ sung: Có ba vấn hầu bắt buộc với đời một thanh đồng theo quan niệm cổ: Hầu mở phủ, hầu tạ 3 năm, hầu tạ 12 năm).
       Cách đáp tạ hồng ân cửa Đình Thần Tam Tứ Phủ là tu tâm dưỡng tính, làm lành lánh dữ; tu phúc, làm những việc có ích cho Đời cho Đạo, thì đó là bổn phận nghĩa vụ của lính ghế Tân Thanh Đồng, thì đó là con nhà Thánh. Chứ không phải cứ hầu nhiều lễ nhiều mới nhanh yên căn,  mới là con nhà Thánh.
       Hoằng dương được Đạo thì đó là phúc vô cùng gấp trăm nghìn lần việc lên sập hầu. Hầu mà không tu được tâm được khẩu, tâm không nghĩ được thiện thì việc hầu vô nghĩa. Có khi lên hầu còn bị lỗi tâm.
     Thế nên các bạn không phải lo lắng là một năm hầu bao nhiêu, hầu ít hay nhiều. Đồng nghèo lính khó Thành Tâm giữ lệ, thì cứ man vàng, lá sớ hàng năm nhờ Thầy sám hối cho là đủ.
"Tâm sáng giữ lấy Đạo nhà
     Gia chung hưng vượng Đạo Đời tốt tươi".

4


Trích lại đôi câu của bài cũ đã đăng để các bạn tham khảo thêm
        Cả nhà thứ lỗi, theo Huyền Tích không phải cứ lên sập bác ghế là Hầu Thánh.  Đấy chỉ là một nghi thức trong Đạo bốn Phủ.
        Cũng không phải lập Đền, lập Điện rồi sớm chiêu chiều mộ, bát tiết giai kỳ khánh tiệc ...nhất niên nhật lệ không đơn không sai đã gọi là Hầu Thánh, Phụng Thánh... Hay đã xưng danh con nhà Thánh đã là con Thánh.
        "Trên lo việc Thánh dưới gánh việc trần".  Lo việc Thánh ở đây là gì? Là người được bề trên được ơn trên giao phó sứ mệnh: Giúp những người căn số vượt qua cơ hành Điên Dại không quá hao tài tốn của mà vẫn yên căn yên mệnh yên gia chung. Đấy là Hầu Thánh.
        Giúp những người đi sai đường lạc lối, gia đạo bất an, vợ chồng li tán... đoàn tụ sum vầy hạnh phúc. Đấy mới gọi là Hầu Thánh.
        Tu Phúc, tạo Phúc giúp đời, giúp Đạo đấy là Hầu Thánh, Phụng Thánh.  Tu đúng đường có nghĩa là phải làm cho: Quốc phú, dân cường, gia chung hưng thịnh, nhà nhà an vui.
        "Gánh việc trần" là gì? Ở đây chúng ta là con Tứ Phủ ai cũng có cha mẹ, người thân ruột thịt, anh em bạn hữu; người có vợ, người có chồng tu sao cho tốt đời đẹp đạo, cho yên gia chung đấy là việc trần của mỗi chúng ta.
        Cảm ơn người đã hỏi, và cảm ơn ai đã lắng nghe và chia sẻ bài viết.
                                                                                           Tác giả: Huyền Tích 

      Lời ban biên tập: Để có thể hiểu thêm về đạo và cách tu cho đúng đạo, các bạn có thể xem thêm một số bài viết tại các đường link này:
      - Hầu đồng sao cho có lộc: http://tuphuthanhmau.blogspot.com/2017/03/hau-dong-sao-cho-co-loc.html.
      - Phân biệt đồng ma, đồng tà: http://tuphuthanhmau.blogspot.com/2017/05/phan-biet-dong-ta-dong-ma.html
      - Khóa lễ thế nào thì đắc lễ: http://tuphuthanhmau.blogspot.com/2017/03/khoa-le-nao-thi-ac-le.html
      Xin kính chúc các bạn nhanh yên căn, yên mệnh tu được đúng đường, đúng đạo để gia thất yên vui, gia đình hạnh phúc.

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Bài khấn lễ cầu tự cho gia đình hiếm muộn con

     Hiện nay, rất nhiều gia đình, nhất là các vợ, chồng trẻ có biểu hiện hiếm muộn. Bài viết này hy vọng sẽ giúp cho các gia đình tự làm lễ cầu tự khi bị hiếm muộn. Đây là một phương pháp rất linh nghiệm, không tốn kém, dễ làm.

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017

Đức Chúa Ông trong chùa là ai

      Mọi người đi chùa, thường không lạ Đức Chúa Ông. Đức Chúa Ông thường được thờ ở bên phải của ban Tam Bảo. Đức Chúa Ông tên thật là Tu Đạt Đa, còn được gọi là Cấp Cô Độc.
      Tu Đạt Đa (đôi khi còn gọi là Tu Đạt) là một đệ tử tại gia của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Kinh Phật chép rằng ông là một thương gia giàu có (hay còn gọi là trưởng lão, trưởng giả), người nước Kosala phía đông bắc Ấn Độ cổ xưa. Ông được mọi người gọi là Cấp Cô Độc (từ trước khi ông gặp Đức Thích Ca Mâu Ni), bởi ông thường xuyên làm phước, bố thí cho những người nghèo. Cấp Cô Độc tiếng Ấn Độ có nghĩa là “người chu cấp cho những kẻ cô độc, không nơi nương tựa”.

Một góc di tích trong Kỳ Viên Tịnh Quán

       Cấp Cô Độc được biết đến là đệ tử hào phóng nhất của Đức Phật. Ông đã hiến tặng một khu vườn mua của Thái tử Kỳ-Đà cho giáo đoàn của Đức Phật. Trong khu vườn đó ông đã rải một lớp gồm 1,8 triệu miếng vàng. Sau khi qua đời, Cấp Cô Độc được sinh vào cõi trời Tusita, hay cõi của các vị Bồ-tát. 
     Chuyện Cấp Cô Độc quy y phật và hiến tặng khu vườn để Đức Phật và tăng đoàn
     Một lần,  ông đến thành Vương Xá để thăm một người anh rể,  thấy mọi người đang bận rộn chuẩn bị một bữa tiệc. Hỏi ra mới biết là gia đình người anh rể đang chuẩn bị đón tiếp Đức Phật vào ngày hôm sau. Vừa nghe đến danh Đức Thích Ca là lòng ông cảm thấy một niềm hoan hỷ lạ thường. Đêm đó ông không ngủ được, sự khao khát được gặp đức phật càng sớm càng tốt. Thế rồi nửa khuya đêm ấy, ông một mình băng rừng đi đến khu rừng Sitavana, nơi Đức Phật đang ngự để diện kiến Đức Phật. Và sau khi nghe Đức Phật giảng về Phật Pháp, ông quá đỗi sung sướng như tìm thấy một chân lý mà bao ngày tìm kiếm không được, Ông liền xin Đức Phật được quy y.

Một góc di tích trong Kỳ Viên Tịnh Quán

        Sau khi quy y, trưởng giả Cấp Cô Độc  trở về thành Xá-vệ và phát tâm cúng dường một khu đất để Đức Phật truyền giảng kinh và các tỳ kheo an trú bởi Đức Phật và Tăng đoàn vẫn chưa có nơi hoạt động ổn định. Ngài đã đi nhiều nơi để tìm một địa điểm thích hợp. Ông nhận thấy trong số các nơi đã xem qua chỉ có vườn cây của thái tử Kỳ-đà là vô cùng rộng rãi, thoáng mát, có sông có nước, có đồi, có núi, có hoa thơm cỏ lạ, cảnh đẹp như tranh, thật là một khung cảnh vô cùng thanh tịnh, u mỹ.
       Nhưng đây lại là khu vườn mà thái tử Kỳ-đà yêu thích nhất, nên không muốn bán cho Cấp Cô Độc nên cự tuyệt bằng cách ra giá thật cao để Cấp Cô Độc thối chí. Thái tử bảo ông rằng: Nếu ông có đủ vàng trải đầy khắp mặt đất của khu vườn thì tôi đồng ý nhượng lại cho ông.

Cây bồ đề A-Nan-Đa ở Kỳ Viên Tịnh Quán

      Không ngờ thái tử vừa nói giá như thế thì trưởng giả Tu-đạt tỏ ra vui mừng khôn xiết, lập tức trở về huy động người nhà lấy xe chở vàng nhanh chóng đến trải lên mặt đất khu vườn. Một thời gian ngắn khu vườn đã gần kín hết mặt đất.
      Thái tử Kỳ-đà quá đỗi kinh ngạc vì sao, giá quá đắt như thế mà Cấp Cô Độc vẫn quyết tâm mua, liền gạn hỏi nguyên căn. Trưởng giả Tu-đạt mới thật lòng đem dự tính xây dựng tinh xá cúng dường đức Phật và chư tăng mà nói cho thái tử nghe. 

Đoàn tăng ni các nước đến viếng thăm Kỳ Viên Tịnh Quán

      Trưởng giả Tu-đạt liền kể lại việc mình được gặp Phật tại thành Vương-xá và được nghe giáo pháp giải thoát của ngài như thế nào. Thái tử nghe xong cũng sinh lòng hoan hỷ, rất mong muốn chính bản thân mình sẽ được gặp Phật. Thái tử cũng sẵn lòng cúng dường số vàng còn thiếu và toàn bộ các công trình trình, cây cối có trong khu vườn cho Đức Phật.
       Trưởng giả Tu-đạt thấy thái tử Kỳ-đà phát khởi lòng tin như thế thì rất vui. Từ đó cả hai đều hết sức hân hoan, cùng nhau bỏ thêm tiền vàng để đốc thúc việc xây dựng khu vườn to đẹp hơn, hoàng tráng hơn để đón Đức Phật và tăng đoàn.

Một góc của tháp Cấp Cô Độc

       Bởi vì tinh xá này là do trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường khu đất và thái tử Kỳ-đà cúng dường vườn cây, nên người thời bấy giờ gọi tên tinh xá này là “Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên”, nghĩa là vườn của ông Cấp Cô Độc, cây của thái tử Kỳ-đà. Ngày nay công trình này được gọi là : Kỳ Viên Tịnh Quán.
       Di tích Kỳ Viên Tịnh Quán
       Theo kinh phật thì trong 45 năm Đức Thích Ca hành đạo thì có đến 25 năm, Ngài đã ngự ở nơi đây. Kỳ Viên Tịnh Quán tồn tại khoảng 17 thế kỷ. Vào thế kỷ XI bị giặc Hồi giáo phá hủy khi xâm lược Ấn Độ. Hiện nay, Kỳ Viên Tịnh Quán còn một di tích linh thiêng như sau:
         - Khu vườn với nhiều nền móng của các công trình xây dựng từ thời cổ đại.

Tháp Cấp Cô Độc còn được coi là kho vàng của ngài

       - Cây bồ đề A Nan Đa do Tôn Giả A Nan ( còn gọi là thị giả A Nan Đa - Ngài chính là Đức Thánh Hiền trong chùa Việt Nam).  Tôn giả A-nan, được sự cho phép của Đức Phật, đã cho trồng một cây bồ-đề được chiết nhánh từ cây bồ-đề tại Bồ Đề Đạo Tràng để cho các Phật tử chiêm ngưỡng những khi Thế Tôn vắng mặt. Tài liệu cũng thuật lại rằng, tôn giả Mục Kiền Liên là người mang nhánh cây đó về, và Trưởng giả Cấp Cô Độc chính là người trồng nhánh cây đó. Đây được coi là cây bồ đề linh thiêng đứng sau cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng nơi Đức Phật đắc đạo.

Tháp của ngài Vô Não

        - Các không xa Kỳ Viên Tịnh Quán có hai ngôi tháp Tháp của Trưởng giả Cấp Cô Độc và tháp của ngài Vô Não. Tháp của ngài Cấp Cô Độc được coi là kho vàng của Ngài thời xa xưa. Tháp của Ngài Vô Não cách đó chỉ vài chục mét. Ngài Vô Não vốn là một tên tướng cướp khét tiếng thời bấy giờ. Ngài Vô Não còn có cái tên Angulimala có nghĩa là “chiếc vòng những ngón tay”. Bởi vì khi còn là một tướng cướp, ông đã từng giết rất nhiều người và mỗi lần giết chết một người ông lấy một lóng xương tay xâu lại làm thành một chiếc vòng. Nhưng sau khi gặp Đức Phật, ông đã quy phục, xuất gia theo Ngài và chứng đắc Thánh quả A-la-hán.

Trên đỉnh tháp của Cấp Cô Độc một sáng mù sương

        Đức Chúa Ông trong tâm linh của người Việt Nam
        Thường các gia đình có con khó nuôi hay bán khoán cho Đức Ông. Tục lệ này có lẽ bắt nguồn từ sự tích Đức Chúa Ông luôn che chở cho trẻ em từ thủa sinh thời. Việc bán khoán con trẻ cho Đức Ông là mong Đức Ông luôn phù độ cho con trẻ hay ăn, chóng lớn, ngoan ngoãn. Thường đến năm trẻ nhỏ 13 hay 18 tuổi thì đến Đức Ông chuộc con về.
        Đức Chúa Ông chính là một thương gia trước khi quy y, nên vì vậy, người ta đến chùa để cầu kinh doanh, sự nghiệp thì hay kêu cầu trước ban Đức Ông.




Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Liên Phái, ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG

      Chùa Liên Phái nằm tại Ngõ Chùa Liên Phái, phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Nơi đây là tổ đình của Thiền phái Liên Tông. Liên Phái là tên của chùa từ năm 1840, trước đó chùa có tên là Liên Hoa rồi Liên Tông.

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội

      Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, tọa lạc ngay trên phố Chùa Hà  thuộc Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội. Đây là ngôi chùa nổi tiếng về cầu duyên tại Hà Nội.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng

       Chùa Tứ Kỳ tên chữ Linh Tiên tự là một ngôi chùa làng, có từ cuối thế kỷ 17. Chùa tọa lạc tại số 8 đường Ngọc Hồi, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Đây là một trong các ngôi chùa thiêng và nổi tiếng tại Hà Nội.

Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

Chùa Hàm Long - Ngôi chùa kỳ dị chuyên nhốt vong bị trùng tang

    Chùa Hàm Long (xã Nam Sơn, TP Bắc Ninh) cách Hà Nội 40 km, nằm trên đường Bắc Ninh đi Phả Lại. 
    Đây là ngôi chùa rất đặc biệt, bởi ngôi chùa chuyên "nhốt vong bị trùng tang" lớn nhất Việt Nam. Vì vậy, có thể nói đây là Đệ Nhất Chùa nhốt vong bị trùng tang.

Thứ Tư, 4 tháng 10, 2017

Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con

       Đền Sinh, hay còn gọi là đền Mẫu Sinh ở thôn An Mô (xã Lê Lợi, Chí Linh, Hải Dương) xưa nay được mệnh danh là nơi "ban con" rất linh thiêng cho những cặp vợ chồng không may vướng phải cảnh hiếm muộn. 

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng

        Đền Quán Thánh, tên chữ là Trấn Vũ Quán. Đền Quán Thánh thờ thần Trấn Vũ nên còn được gọi là Đền Trấn Vũ ( đọc chệch Đền Trấn Võ).
        Đền Quán Thánh là một trong tứ trấn linh thiêng của thành Thăng Long ngày xưa. Đền Quán Thánh trấn ở phương bắc nên còn gọi là Bắc Trấn Linh Từ.
        Đền Trấn Vũ nằm ngã tư cắt giữa đầu đường Thanh Niên và phố Quán Thánh, thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. 

Tứ trấn thành Thăng Long là những đền nào

       Bốn ngôi đền đó là: Đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành).
Đền Quán Thánh xưa. Đây là những ngôi đền linh thiêng của thành Thăng Long.

Lịch sử đền Quán Thánh

      Tương truyền đền có từ đời Lý Thái Tổ (1010-1028). Nhưng theo cuốn Kiến trúc cổ Việt Nam, thì đền được khởi dựng năm 1012.
      Đời vua Lê Hy Tông. Trịnh Tạc ủy cho con là Trịnh Căn chủ trì việc đúc pho tượng Thánh Trấn Vũ bằng đồng thay cho tượng gỗ.
      Năm 1794, đời vua Quang Toản, viên Đô đốc Tây Sơn là Lê Văn Ngữ cho đúc chiếc khánh đồng lớn.


      Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm đền và ban tiền đúc vòng vàng đeo cho tượng Trấn Vũ.
      Năm 1962, Đền được công nhận di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia.

Thần Trấn Vũ là ai

        Thần Trấn Vũ là thần trấn quản phương Bắc đã nhiều lần giúp nước Việt đánh đuổi ngoại xâm. Lần thứ nhất vào đời Hùng Vương thứ 6 đánh giặc từ vùng biển tràn vào, lần thứ hai vào đời Hùng Vương thứ 7 đánh giặc Thạch Linh... Trong bản ghi chép còn có chi tiết Huyền Thiên Trấn Vũ giúp dân thành Thăng Long trừ tà ma và yêu quái, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt Hồ ly tinh trên sông Hồng đời Lý Thánh Tông...
      Tương truyền thời Vua An Dương Vương xây thành cứ ngày đắp, đêm lại bị đổ vì yêu ma Bạch Kê Tinh phá hoại. Sử sách chép rằng: “Ngày Tinh Gà Trắng trú ẩn ở núi Thất Diệu, đêm lại xuất hiện. Vua không có cách nào trừ khử bèn lập đàn cầu khẩn, được Huyền Thiên Trấn Vũ sai thần Kim Quy (tức sứ Thanh Giang) hiện ra mách bảo kế giết Bạch Kê Tinh nên thành ốc mới xây xong”.


       Lý Thái Tổ sau khi dời đô ra Thăng Long đã đến núi Sái cầu Huyền Thiên và sinh được hoàng tử. Thấy công đức của Huyền Thiên rất to lớn, Nhà Vua đã cho xây đền Trấn Vũ (tức đền Quán Thánh) ở phía bắc kinh thành, xin rước hiệu duệ Huyền Thiên về ở đó để thờ. Đền Quán Thánh được coi như trấn Bắc Thăng Long từ đó.
      Đến thời Pháp, người Pháp nhiều lần định phá hủy tượng thần, hun nóng cho chảy ra lấy đồng nhưng không thể nung chảy được, quân lính cũng liên tục bị bệnh ốm chết, phải bỏ chạy.
      Có lần quân Pháp càn, cán bộ cách mạng còn chui vào trong đền, nằm gọn dưới chân tượng thần Trấn Vũ. Địch vào sục sạo một hồi nhưng không phát hiện được, sau cũng không dám làm càn chốn uy nghiêm nên cán bộ thoát.

Nét đặc sắc của đền Trấn Vũ

      Có lẽ đặc sắc nhất của Đền Trấn Vũ là tượng của thần Trấn Vũ. Trước kia tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được làm bằng gỗ, đến năm 1677 được đúc lại bằng đồng đen. Tượng cao 3,07m, chu vi 8 m, nặng 4 tấn. Tượng có khuôn mặt vuông, râu dài, tóc xõa, mặc áo đạo sĩ, ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm có rắn quấn và chống lên lưng một con rùa. Tượng Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại Việt Nam, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội cách đây hơn ba thế kỷ.


      Trên gác tam quan có quả chuông đồng cao 1.5m, nặng 1 tấn, được đúc vào năm 1677, triều đại vua Lê Hy Tông. Tiếng chuông này đã đi vào ca dao với những câu thơ đậm chất trữ tình:
 Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương”
      Ngoài ra, trong đền còn có chiếc khánh bằng đồng được đúc vào thời chúa Trịnh (thế kỷ 17 – 18) do đô đốc Lê Văn Ngữ quyên tiền để đúc thành. Chiếc khánh có chiều ngang 1,25m, chiều cao 1,1m.

Đền Bạch Mã - Hà Nội

      Đền Bạch Mã nằm ở 76 phố Hàng Buồm, Hà Nội. Đền Bạch Mã là một trong bốn ngôi đền trong “Thăng Long tứ trấn” của thành Thăng Long ngày xưa. Trong Tứ Trấn thì đền Bạch Mã trấn ở phía đông nên còn được gọi là: Đông Trấn Linh Từ.

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Đền thờ Cô Chín tại Hà Nội

       Đền Sòng Sơn Vọng Từ hay còn gọi là Đền Cô Chín toạ lạc ở số 35 phố Tôn Đức Thắng, phường Quốc Tử Giám, Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

       Đền được coi là nơi thờ vọng của Cô Chín Sòng Sơn. 
       Sòng Sơn Vọng Từ cũng là nơi hiện nay đang lưu giữ bát hương của Miếu Hai Cô bên tường của Quốc Tử Giám xưa kia được chuyển về.
       Đây là một ngôi đền cổ, nhưng không rõ được xây dựng vào thời nào. Năm 1947, thực dân Pháp đã đốt phá ngôi đền. Năm 1949 - 1951, ngôi đền được xây dựng lại. Sau này, bị dân cư lấn chiếm nên ngôi đền còn lại một khuôn viên nhỏ hẹp.
       Tồn tại tới ngày nay, di tích đền Sòng Sơn còn bảo lưu được bộ di vật văn hoá - lịch sử khá phong phú, đa dạng với nhiều chủng loại và chất lượng khác nhau: 4 bức hoành phi, 3 bức cửa võng, chạm  rồng chầu, 1 long ngai chạm rồng thế kỉ XIX, 10 khám thờ, 37 pho tượng tròn. 
      Sòng Sơn Vọng Từ cũng là nơi yết lễ cho các đệ tử tại Hà Nội mến mộ Cô Chín Sòng Sơn khi không có hoặc chưa có dịp vào Thanh Hóa lễ Cô.
   

Đền Cô Bé Xương Rồng

       Đền Xương Rồng, hay còn gọi là Xương Long Tự. Đền tọa lạc tại tổ 8, khu phố 3, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên.
      Đền Xương Rồng là nơi thờ chính của Cô bé Xương Rồng. Vì vậy ngôi đền còn được gọi là Đền Cô Bé Xương Rồng. Đền Xương Rồng còn là nơi thờ Dương Tự Minh (còn gọi là Đức Thánh Đuổm). 
      Đền có phối thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.


     Theo phong thủy ngôi đền ngôi đền nằm ở vị trí linh thiêng, như trên lưng của một con rùa và đầu hướng về mặt trời, và xung quanh có dòng nước bao bọc.
      Khuôn viên của Xương Long Linh Từ rộng và thoáng, có nhiều cây cổ thụ soi bóng tỏa mát. Đặc biệt, trong khuôn viên có một cây bồ đề to, tỏa bóng mát hàng trăm năm qua.
      Năm 2014, nhà Đền Xương Rồng đã cho đúc chuông và tượng Vua Cha Ngọc Hoàng để bố sung cho không gian thờ tự.

Thần tích về Cô bé Xương Rồng 

      Xưa kia có đôi vợ chồng nghèo sống bằng nghề thuốc nam, đã nhiều năm trôi qua nhưng họ vẫn chưa có con. Một hôm, người vợ vào rừng hái thuốc và gặp tiên ông. Tiên ông cho người vợ một vật bảo rằng, hãy mang về chôn ở đầu giường, thì điều thiêng sẽ linh ứng. Quả nhiên, người vợ có mang sau 12 tháng sinh ra một bé gái xinh xắn. Cô bé thông minh giỏi giang, 9 tuổi đã cùng cha mẹ lên núi hái thuốc và chữa được nhiều bệnh lạ mà cha mẹ cô không chữa được.


       Cha mẹ cô bé đột ngột qua đời, cô bé sống một mình và tiếp tục hái thuốc nam chữa bệnh cho mọi người. Thông minh lanh lợi, giỏi y thuật, cô bé được nhân dân trong vùng tôn là nữ thần y. Trong một đêm giông bão, ngôi nhà cô ở đã cùng cô biến mất mãi mãi, chỉ còn lại một cây lạ mọc trên nền đất cũ. Trên cây ghi lại di thư rằng: “Ta là con Thánh Mẫu Thượng Ngàn đầu thai xuống giúp chữa bệnh cho dân, giờ ta ban cho dân cây thuốc quý này”.
     Lúc này, quân sĩ do tướng Dương Tự Minh triều nhà Lý bị mắc bệnh lạ mà mọi thần y đều không có khả năng đoán chữa bệnh. Trong giấc mơ, Dương Tự Minh đã thấy có người mách, hái cây thuốc quý nấu thành nước cho quân sĩ uống thì sẽ tiêu tan bệnh. Quả nhiên bệnh đã hết, sau khi đánh thắng giặc về ông cho lập đàn tế lễ. Từ đó trở đi nơi thờ tự cô bé được gọi là Xương Long Linh Từ.

Dương Tự Minh là ai

      Ông là người Tày, quê ở Quan Triều, Thái Nguyên.  Năm 1143, Ông được triều đình nhà Lý phong làm Thủ lĩnh phủ Phú Lương (bao gồm đất đai tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, một phần tỉnh Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hà Nội ngày nay). 


      Dương Tự Minh có công tiêu diệt giặc Tống (năm 1148), có công tiêu diệt phản loạn bảo vệ nhà Lý (năm 1150). Vì vậy, Ông đã vua Lý gả cho hai nàng công chúa là Diên Bình và Thiều Dung.
     Dương Tự Minh là nhân vật lịch sử có thật (Phò mã nhà Lý) có nhiều công lao với mảnh đất Thái Nguyên và triều Lý. Sau khi mất ông được nhiều triều đại phong kiến Việt Nam ban sắc phong là Thượng đẳng thần. 
     Đền Đuổm dưới chân núi Đuổm, thuộc xã Động Đạt, Huyện Phú Lương, Thái Nguyên nơi thờ tự chính của ông. Tương truyền đó là quê hương của ông, và cũng chính là nơi mất của Ông.

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

Đền Trung Tả - Khâm Thiên

         Đền Trung Tả giữa một vùng dân cư đông đúc của ngõ Trung Tả, phố Khâm Thiên, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, Hà Nội. Đây là ngôi đền  thờ bà Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ của vua Lê Thái Tông. 




     Cùng khuôn viên đền Trung Tả là ngôi đình thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đình và Đền Trung Tả tạo nên một quần thể đền đình của phố Khâm Thiên.
      Đình đền Trung Tả có từ thời Hậu Lê.
     Hiện nay, Đền Trung Tả  còn giữ được nhiều di vật quý, trong đó có tượng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao cùng nhiều bức đại tự, ca ngợi công đức của bà.
      Ngoài việc thờ tưởng niệm những nhân vật lịch sử dân tộc, quần thể di tích còn có 12 pho tượng Phật và tượng các anh hùng văn hóa có niên đại từ thế kỷ 17 đến những năm đầu thế kỷ 20.

Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao là ai

       Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao là người Thanh Hóa. Bà xuất thân từ một gia đình quyền quý.
       Cha bà là Ngô Từ, khai quốc công thần của nhà Lê, giữ vai trò cung cấp quân lương trong những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn. Mẹ bà là Đinh Thị Ngọc Kế, từng được triều đình tặng Ý Quốc Thái phu nhân. 
      Bà từ nhỏ mồ côi mẹ, được bà ngoại nuôi. Năm 1436, khi 14 tuổi,  bà được tuyển vào cung.  Năm 1440, bà được chồng là vua Lê Thái Tông phong Tiệp dư.
      Năm 1460, Lê Thánh Tông lên ngôi. Lê Thánh Tông tôn mẹ làm Hoàng thái hậu.
       Bà thường về ở Đông Triều, ăn chay niệm phật.
       Hoàng Thái hậu qua đời khi 75 tuổi.  Lê Thánh Tông đau buồn, truy tôn bà làm Quang Thục hoàng thái hậu. Về sau, Thụy hiệu của bà đầy đủ là Quang Thục Trinh Huệ Khiêm Tiết Hòa Xung Nhân Thánh hoàng thái hậu.


Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

Di cung hoán số thế nào cho đúng, cho tốt

        Lời ban biên tập: Chúng tôi xin lược trích bài viết của Thầy Huyền Tích về Di Cung Hoán Số để các bạn tham khảo. Hy vọng các bạn sẽ rút ra được cách làm đúng, hiệu quả.

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh

      Đền Và toạ lạc trên đồi Và thuộc xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây. Đền Và thờ thần Tản Viên, vị thần đứng đầu trong tứ bất tử của Việt Nam.

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Đền Độc Cước Sầm Sơn

     Đền Độc Cước nằm trên đỉnh núi Cổ Giải  ngay cạnh bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hóa. Đền mang tên Độc Cước (nghĩa là một chân) thờ Thần Độc Cước.

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

Nghĩa vụ của Đồng Thầy

      Lời ban biên tập:  Chúng tôi xin biên tập bài viết: "Nghĩa vụ của Đồng Thầy" của Thầy Trần để các bạn tham khảo.

Thứ Tư, 21 tháng 6, 2017

Đền Bà Chúa Kho

     Những đền Bà Chúa Kho nổi tiếng

      Trong hệ thống thần linh của tín ngưỡng người Việt thì hình tượng Bà Chúa Kho rất độc đáo. Bà Chúa Kho vừa là một nhân vật huyền thoại, vừa là một nhân vật lịch sử.  Ở nước ta có 3 Bà Chúa Kho được phong Phúc Thần, đó là Bà Chúa Kho ở Nam Định, Bà Chúa Kho ở Giảng Võ (Hà Nội).

Đền Bà Chúa Ong

     Đền Bà Chúa Ong nằm ở phố Ba Mỏ, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Bà Chúa Ong không nằm trong hệ thống Tứ Phủ.
       

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

Chúa Năm Phương

Thần tích về Chúa Năm Phương

     Chúa Năm Phương được sinh ra trong một gia đình họ Vũ tại làng cổ Gia Viên thuộc quận Ngô Quyền, Hải Phòng; nay là phường Gia Viên, Phố Cấm. Tên thật của bà là Vũ Thị Quyến Hoa.

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Mẫu có phải là con của Phật không

      Lời ban biên tập: Vừa qua, chuyện một nhà sư nói về Đạo Mẫu tạo nên một sự lùm xùm không nhỏ. Ban biên tập chúng tôi xin trích đăng một bài viết có liên quan đến vấn đề này để các bạn tham khảo.

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Bàn về chuyện xoay khăn

        Lời ban biên tập: Vừa qua, chúng tôi có đăng bài của thầy Huyền Tích về các nguyên nhân xoay khăn, đã có nhiều bạn băn khoăn về vấn đề này. Chúng tôi xin lược trích và biên tập bài viết "Xoay khăn" của thầy Đồng Âm để các bạn tham khảo thêm.

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Lý do xoay khăn sau khi ra hầu

     Lời ban biên tập: Chúng tôi xin đăng một bài viết về hiện trạng và nguyên nhân dẫn đến xoay khăn của thày Huyền Tích để các bạn tham khảo. Hy vọng đây là một sự gợi mở cho ai đó muốn xoay khăn chiêm nghiệm về nguyên nhân muốn xoay khăn của mình để có quyết định cho riêng mình.

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát

   Lời ban biên tập: Đây là bài viết đăng trên trang Bát Quái. Chúng tôi xin phép được đăng lại để các bạn nào vướng nghiệp này tham khảo và áp dụng sử dụng. 

Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2017

Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười

      Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười tọa lạc vùng bên đê La Giang, tại ngã ba giao nhau giữa sông Minh (kênh nhà Lê), Sông La và Sông Lam nên còn gọi là “Mỏ Hạc Linh Từ”. Nơi đây còn gọi là Đền Cả. Ngôi đền thuộc địa phận phường Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Phân biệt đồng ma, đồng tà

        Lời ban biên tập: Đồng ma, đồng tà là ai? Đó là điều mọi người rất muốn biết. Chúng tôi xin biên tập một bài viết của thầy Huyền Tích - Một người thầy luôn tâm huyết vì sự chấn hưng Đạo Mẫu - để các bạn tham khảo. Hy vọng, với bài viết này các bạn sẽ rút ra những chiêm nghiệm của riêng mình. 

Phân biệt đồng tà, đồng ma thế nào

     Lời ban biên tập: Đồng ma, đồng tà là ai? Đó là điều mọi người rất muốn biết. Chúng tôi xin biên tập một bài viết của thầy Huyền Tích - Một người thầy luôn tâm huyết vì sự chấn hưng Đạo Mẫu - để các bạn tham khảo. Hy vọng, với bài viết này các bạn sẽ rút ra những chiêm nghiệm của riêng mình. 

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

      Lời ban biên tập: Đây là bài viết của Thầy Trần bàn về câu ca: "Lênh đênh qua cửa Thần Phù; Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm". Chúng tôi xin phép lược trích và đăng lại để các bạn tham khảo. Để bạn đọc dễ tham khảo chúng tôi có chia bài viết thành các mục nhỏ.

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy

     Lời ban biên tập: Theo ý kiến của đồng thầy Thầy Trần thì "hiện nay có đến 90% của điện đã nhiễm tà", nhiều đồng thầy được thánh ban khả năng tâm linh, nhưng cũng "có đến 90% các thầy như vậy đã bị thu lại quyền phép" vì đã nhuốm vào tham sân si, mãnh lực của đồng tiền. Đây là trích dẫn phần chiêu trò đồng thầy đăng trong  bài viết " Nước mắt hầu đồng" của Thầy Trần trên trang Đạo Mẫu Việt Nam này của chúng tôi. Hy vọng phần bài viết này sẽ là một tham khảo thú vị cho các bạn thích xem bói toán và muốn ra trình đồng mở phủ.

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

Điều nguy hiểm nếu trình đồng mở phủ

    Lời ban biên tập: Trước tình trạng loạn đồng, loạn thầy khiến con nhanh đệ tử mất phương hướng, ấy là chưa kể đồng rởm, đồng tiền lung lạc khiến các con nhanh nhẹ dạ mà ra bắc ghế hầu, hay lao vào vòng xoáy của lễ bái. Bao người lầm lạc ra hầu thánh chả thấy tiền bạc gia tăng, tình cảm gia đình bền chặt, chỉ thấy khốn đốn đủ đường, vợ chồng ly tán. Chúng tôi xin biên tập một bài viết của một đồng thầy - Một người người thầy của đạo mẫu chân chính -  để các bạn tham khảo. Hy vọng với bài viết này, các bạn trẻ sẽ rút ra một điều gì đó cho bản thân mình khi tiếp cận với tâm linh và Đạo Mẫu.
        Đầu đề bài viết do chúng tôi đặt.

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Ý nghĩa của hầu đồng


     Lời ban biên tập: Hầu đồng phải làm gì, ý nghĩa của hầu đồng có phải để cầu tài, cầu lộc hay không. Đây là một câu hỏi các bạn thanh đồng đều muốn hỏi. Chúng tôi xin lược trích một bài viết của Thầy Trần - Một đồng thầy luôn trăn trở với sự chấn hưng Đạo Mẫu về với các giá trị tâm linh trong sáng vốn có của đạo. Chúng tôi hy vọng bài viết này là một sự gợi mở cho các thanh đồng trong việc tu tập hầu thánh sao cho đúng, tránh sự lệch lạc, không sa vào sự biến tướng của hầu đồng hiện nay.

Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2017

Tác động của gia tiên đến mở phủ, trình đồng

     Lời ban biên tập:  Chúng tôi xin lược trích và biên tập bài viết" Mối quan hệ giữa gia tiên với Đạo Mẫu" của đồng thầy Thầy Trần - Một người con của mẫu, luôn tâm huyết với sự chấn hưng của đạo - để các bạn tham khảo. Bài viết không quảng cáo, cổ súy cho hầu đồng, mà chỉ mong muốn mọi người hiểu rõ hơn về đạo để có thêm sự thiếu hiểu biết để tránh trở thành u mê, mê tín dị đoan, tránh để các thầy bà lợi dụng ép ra hầu đồng. Để tiện cho các bạn nghiên cứu, chúng tôi mạn phép tác giả bổ sung các đầu đề nhỏ trong bài viết.

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Hầu đồng ơi hầu đồng

       Lời ban biên tập: Mời các bạn tham khảo một bài viết của đồng thầy Thầy Trần - Một người thầy luôn tâm huyết chấn hưng Đạo Mẫu - về vấn đề hầu đồng để các bạn tham khảo. Đầu đề bài viết do chúng tôi đặt.

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng

    Lời ban biên tập: Đạo Mẫu Việt Nam đã được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Đó là niềm vui, nhưng kéo theo là sự lo ngại. Chúng tôi xin lược trích bài viết "Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng" của Quỳnh Vân đăng trên An Ninh Thủ đô để các bạn tham khảo.

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Nỗi lòng một đồng thày về Đạo Mẫu

     Lời ban biên tập: Hầu đồng là một nét văn hóa tâm linh đặc sắc của Đạo Mẫu. Đạo Mẫu vốn có là tốt đẹp, nhưng hiện nay đang đứng trước vấn nạn biến tướng, bị thương mại hóa, chúng tôi xin lược trích một bài viết của Thầy Trần - Một đồng thày tâm huyết vì đạo - để các bạn tham khảo.

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Trình đồng, mở phủ để làm gì

      Lời ban biên tập: Chúng tôi xin phép đăng một ý kiến của Thanh Lam - Một người thày tâm huyểt với Đạo Mẫu - về vấn đề "Chúng Ta Trình Đồng Mở Phủ Để Làm Gì " để chúng ta tham khảo.

Hầu Đồng: Loạn mở phủ, trình đồng


      Lời ban biên tập: Chúng tôi xin đăng bài viết "Loạn mở phủ, hầu đồng" của Trinh Nguyên và Văn Đông đăng trên báo Thanh Niên về tình trạng hầu đồng hiện nay, sau khi Đạo Mẫu được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại để các bạn tham khảo.

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Hầu đồng: Đồng tiền có gai mà thánh có mắt

     Lời ban biên tập: Đạo Mẫu vốn trong sáng, nhưng vấn nạn biến tướng của hầu đồng đang làm vấy bẩn ngôi nhà của Mẫu. Chúng  tôi xin lược đăng bài viết " Đồng tiền có gai và thánh có mắt" của bạn Mỹ Trân đăng trên báo An Ninh Thế Giới để các bạn tham khảo. 

Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh

      Lời ban biên tập: Hầu đồng ngày càng xa rời giá trị thực trong sáng vốn có. Chúng tôi xin lược trích ý kiến của Đại Đức Thích Minh Thông (chùa Hoàng Xá) đăng trên báo điện tử Ban Tôn Giáo Chính Phủ về vấn đề hầu đồng hiện nay để các bạn tham khảo.

Thực hành đúng về hầu đồng

      Lời ban biên tập: Một nhà nghiên cứu văn hóa Mỹ - Ông Taylor - sau khi nghiên cứu về Đạo Mẫu đã thốt lên: Một đạo tốn kém nhất của nhân loại. Chúng tôi xin lược trích bài viết "Hiểu và thực hành đúng về hầu đồng" của bạn Phương Lan đăng trên Báo Mới điện tử về thực trạng hầu đồng hiện nay để các bạn suy ngẫm.

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Đồng thầy nhức nhối về hầu đồng


    Lời ban biên tập: Khi tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam được UNESCO vinh danh là Di sản Phi vật thể của Nhân loại, nhưng không có nghĩa là UNESCO vinh danh cho hầu đồng. Bởi hầu đồng chỉ là một nghi thức trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam. Một thực tế đáng buồn, sau khi Đạo Mẫu được vinh danh, nghi lễ hầu đồng truyền thống theo đúng giá trị trong sáng đích thực ngày càng phai nhạt. Trong khi những biến tướng của hầu đồng lại tiếp tục mở rộng tầm ảnh hưởng. Một đồng thày phải thốt lên rằng: Nhân đợt này, nhiều người cố tình vinh danh đồng cốt chứ không phải vinh danh cho Tín ngưỡng thờ Mẫu”. 

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

Nỗi lòng một thanh đồng

    Lời ban biên tập: Đạo Mẫu là nét văn hóa tâm linh đặc sắc của Việt Nam, một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tuy nhiên, sự biến tướng của nó đang là một vấn nạn khiến Đạo Mẫu ngày càng xa rời giá trị đích thực vốn có của nó, khiến nhiều người lâm vào lầm than. Chúng tôi xin chia sẻ với các bạn một tâm tình của một người con của Mẫu - Tự Minh Ân - để các bạn suy ngẫm.  

Đồng đua, đồng đú

       Lời ban biên tập: Hiện nay, vấn nạn đồng đua, đồng đú ngày càng phát triển mạnh. Chúng tôi xin đăng một bài viết về vấn đề này của bạn Thùy Dương đăng trên báo Pháp Luật điện tử để các bạn tham khảo.

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

Sự biến tướng trong hầu đồng

     Lời ban biên tập: Hiện nay, với mong muốn để mọi chúng ta hiểu đúng về giá trị đích thực của Đạo Mẫu, chúng tôi xin trích đăng một phần bài phỏng vấn của Tú Anh với Giáo sư Ngô Đức Thịnh - Một nhà nghiên cứu tâm huyết về Đạo Mẫu để các bạn tham khảo. Giáo sư đã chua chát nhận xét: "Tôi rất buồn phải nói rằng 80% nghi lễ này hiện nay là biến tướng. Biến tướng nghiêm trọng. Hoàn toàn “vật chất hóa” từ đầu đến cuối".

Hầu đồng - Một món hời

     Lời ban biên tập: Đạo Mẫu là một nét văn hóa tâm linh đặc sắc của mà chỉ có ở đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay Đạo Mẫu đang xa dời giá trị đích thực, trong sáng vốn có của mình. Chúng tôi xin biên tập một bài viết được đăng trên Đạo Mẫu Page để các bạn tham khảo và suy ngẫm. Rất tiếc chúng tôi chưa xác định được tác giả chính thức của bài viết. Xin tác giả và các bạn thông cảm. Mong rằng ai đó đã ra hầu đồng, hay sắp ra hầu đồng nên có sự đánh giá cho riêng mình khi đọc bài viết này.

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Cách chữa bệnh do người âm bám - Phần hai

       Lời ban biên tập: Vừa qua, bài viết "Cách chữa bệnh do người âm bám" đã được rất nhiều bạn đọc đón nhận. Nhiều bạn đã gọi đến ban biên tập chúng tôi xin làm rõ vấn đề này hơn để có thể lựa chọn được giải pháp hóa giải sao cho có hiệu quả nhất. Vì vậy, ban biên tập chúng tôi đã biên tập phần hai để các bạn tham khảo. 

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

Cách chữa bệnh do người âm bám theo

        Lời ban biên tập: Hiện nay, rất nhiều người có hiện tượng người âm theo, được các thầy đồng cho ra hầu đồng nhưng không khỏi, thậm chí lại nặng thêm. Tại sao vậy, nguyên nhân của việc này là gì, đấy có phải là giải pháp hữu hiệu không. Đây là điều nhiều bạn băn khoăn. Chúng tôi xin đăng lại một bức thư gửi cho một người ở báo Catytoday có hai chị em bị bệnh vương âm của Kiến Trúc sư - Nhà Tâm Linh Trần Yên Nguyên để các bạn tham khảo.
      Chúng tôi hy vọng bài viết này, sẽ là một sự giác ngộ cho nhưng ai có con cháu bị vương âm có cái nhìn đúng đắn về sự việc và có biện pháp hữu hiệu để tránh tiền mất, tật mang.

Đền Bắc Lệ - Bia ký nhà đền

        Lời ban biên tập:  Đền Công Đồng Bắc Lệ thờ ai. Việc dịch các bia ký của Đền Công Đồng Bắc Lệ có năm 1922 và năm 1933 của Viện Hán Nôm cho thấy Đền Công Đồng Bắc Lệ của bạn Hoàng Giáp - Viện Hán Nôm cung cấp và bạn Đỗ Tùng đăng tải sẽ giúp các bạn sẽ rõ.
      Chúng tôi xin đăng lại bài viết này do bạn Đỗ Tùng đăng tải lên một nhóm về Đạo Mẫu trên Facebook để các bạn tham khảo.    

Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2017

Thanh đồng cần phải làm gì

Lời ban biên tập:  Cần phải làm gì khi đã ra hầu đồng. Đây là điều nhiều thanh đồng muốn biết. Chúng tôi xin mạn phép thầy Đồng Âm - Một người thầy tâm đức, có nhiều công sức đóng góp cho sự chấn hưng Đạo Mẫu - xin được lược trích và biên tập bài viết CÙNG THANH ĐỒNG VƯỢT QUA GIAI ĐOẠN THỬ ĐỒNG để các bạn tham khảo.

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Sự ngộ nhận trong hầu đồng

      Lời ban biên tập: Hiện nay, có thanh đồng ra hầu được lộc thì chỉ nghĩ đó là Mẫu cho, thánh ban. Có người ra hầu vẫn lận đận lại cho rằng đó là do lỗi thầy, lỗi lễ nên thánh quở, thánh phạt rồi lại loay hoay đổi thầy, xoay khăn...
      Chúng tôi mạn phép lược trích và biên tập ý kiến của bạn Đàm Quang Vinh trong bài viết SỰ NGỘ NHẬN TRONG HẦU ĐỒNG để các bạn tham khảo và suy ngẫm. 

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

Hầu đồng sao cho có LỘC

      Lời ban biên tập: Hiện nay, tình trạng đua đồng, đua bóng đang là vấn nạn của Đạo Mẫu. Người hầu đồng chỉ mong hầu để có Lộc, mà quên rằng ra hầu để tu căn, giải nghiệp. Thậm chí mê muội với những chiêm bao Ngài báo mà dẫn đến lỗi Đạo, lỗi Đồng. Chỉ vì hám LỘC mà dốc tiền vào hầu. LỘC đâu chẳng thấy chỉ thấy con chê, chồng giận; thậm chí tan cửa nát nhà, khuynh gia bại sản.  Chúng tôi xin biên tập và lược trích một số ý kiến của Thầy Huyền Tích - Một người thày luôn mong chấn hưng Đạo Mẫu theo đúng giá trị của Đạo -  để chúng ta cùng suy ngẫm.

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Có nên ra hầu đồng

     Lời ban biên tập: Hiện nay, hơi một tí trục trặc, khó khăn trong cuộc sống là mọi người lại mong ra trình đồng mở phủ. Nhiều đồng thày thiếu hiểu biết chỉ mong "đông con nhang, nhiều đệ tử" đã vô tình lôi kéo nhiều con nhang mở phủ hầu thánh. Ấy là chưa kể, vì tiền tài làm mờ mắt mà bất chấp đạo pháp, lôi kéo con nhang. Nhiều người thành tâm ra hầu thánh, nhưng vì không hiểu đạo, chưa đủ căn duyên, khiến càng hầu càng khổ, thậm chí, khuynh gia bại sản, vợ chồng con cái ly tán. Bởi lễ thì dễ, giữ lễ thì khó. 
      Chúng tôi xin lược trích ý kiến của bạn Hoài Lê, thành viên của nhóm CON MẪU TAM TỨ PHỦ để các bạn có ý nguyện hầu đồng cân nhắc.

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Khóa lễ thế nào thì đắc lễ

      Có phải là khóa lễ cứ phải mâm cao cỗ đầy, mã lắm, thày giỏi thì được đắc lễ; còn lễ đạm bạc, đơn sơ thì không đắc lễ?  
       Đây là điều nhiều thanh đồng băn khoăn. Chúng tôi xin lược trích ý kiến của thày Huyền Tích - Một người thầy hết lòng vì sự chấn hưng Đạo Mẫu - về vấn đề này để các bạn tham khảo.

Đền Cửa Ông

       Đền Cửa Ông thuộc địa phận phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đền Cửa Ông thờ phụng Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng cùng nhiều nhân vật nổi tiếng thời nhà Trần.

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang

         Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang thuộc phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang. Đền Kiếp Bạc hay còn có tên chữ là "Kiếp Bạc linh từ" (đền thiêng Kiếp Bạc). Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang thờ Đại Vương Trần Hưng Đạo. Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang nằm sát bên Đền Hạ Tuyên Quang (Đền Mẫu Tam Cờ).

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Làm sao để yên căn yên mệnh

      Làm sao để yên căn yên mệnh đó là điều mọi thanh đồng đều ước muốn. Nhưng tiếc thay, do việc chưa hiểu hết Đạo, nên nhiều thanh đồng đã rơi vào vòng luẩn quẩn, u mê. Chúng tôi xin trích đăng một bài viết về vấn đề này của thầy Huyền Tích - Một người thầy luôn hết lòng vì sự chấn hưng Đạo Mẫu - để mọi người tham khảo.

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

Đền An Sinh - Di tích Trần triều


     Đền An Sinh nằm ở xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.  Đền An Sinh nằm cách quốc lộ 18 khoảng 5 km.

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

Lễ hội đền Xâm Thị


       Đền Xâm Thị thờ mẫu Thoải và Mẫu Địa nằm ở làng Xâm Thị, xã Hồng Vân Thường Tín, Hà Nội. Lễ hội Đền Xâm Thị luôn được gắn với Đình Xâm thị tạo thành một lễ hội Đình - Đền đặc sắc. Lễ hội thường kéo dài 10 ngày từ mùng 1/2 đến hết 10/2 hàng năm. Lễ hội này được coi là Hội làng quan trọng nhất trong năm của ba con Xâm Thị nói chung và khách thập phương yêu thích Đạo Mẫu.