Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Phủ Dầy và Thánh Mẫu Liễu Hạnh

      
        Phủ Dầy là một quần thể di tích tâm linh gắn liền đến sự giáng sinh lần thứ hai của mẫu Liễu Hạnh. Quần thể di tích tâm linh này nằm chủ yếu tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
        Phủ Dầy là một quần thể di tích lịch sử văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia từ năm 1975.

Lầu trong khuôn viên Phủ Tiên Hương

Tại sao nơi đây có tên là Phủ Dầy

      Phủ Dày còn gọi là Phủ Giầy hay Phủ Giày). Mỗi tên gọi được gắn với những huyền thoại khác nhau về vùng đất.

  •  Phủ Giầy xuất phát từ truyền thuyết Bà Chúa Liễu Hạnh vì quá nhớ thương gia đình, chồng con nên đã để lại một chiếc giầy ở trần gian trước khi về thượng giới hoặc có huyền thoại: Vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy.
  •  Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.
Cảnh Phủ Tiên Hương

      Theo sử sách thì Phủ Dầy ngày nay bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Nơi đó, vào thời vua Tự Đức ( 1860) được chia là hai thôn: Vân Cát và Tiên Hương.
       Như vậy, Vân Cát là nơi Mẫu được sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh. Như vậy, Phủ Dầy chính là "cái nôi" Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ hai.

Quần thể di tích tâm linh Phủ Dầy

       Quần thể di tích tâm linh Phủ Dầy có đến 19 di tích tâm linh, chủ yếu liên quan đến Mẫu Liễu Hạnh. Tuy nhiên, tại Phủ Dầy có ba di tích lớn gắn liền với thần tích Mẫu Liễu Hạnh. Tiêu biểu là Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu Liễu. Những di tích này cũng là di tích trực tiếp thờ phụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ngoài ra, còn hơn chục đền phủ, chùa chiền có liên quan đến Mẫu Liễu Hạnh. 

Cửa Ngọ Môn Phủ Vân Cát
      Ngoài ba địa điểm chính trên Quần thể Di tích Tâm Linh Phủ Dày còn có các di tích tâm linh sau:
      1. Đền thờ Mẫu Đông Cuông (Mẫu Thượng Ngàn): Đền nằm ngay sát đường chính.
      2. Đền Quan Lớn: Đền nằm dưới chân núi Ngắm . Đền thờ Quan Lớn Đệ Tam
      3. Đền Đức Vua Cha: Đường vào chân núi.
      4. Đền Chầu Đệ Tứ: Nằm trên đường chính.
      5. Đền Mẫu Thoải và Cô Chín: Nằm trên đường từ Phủ Bóng Vân Du đi vào Phủ Vân cát
      6. Đền Mẫu Thượng: Đền nằm trên núi.
      7. Đền Trình Phủ Dày: Nằm trên đường chính về phía đường 10.
      8. Đền Trình Phủ Tiên Hương: Nằm trên đường vào Phủ Tiên Hương.
      9. Phủ Bóng Nguyệt Du Cung: Nằm cạnh Lăng Thánh Mẫu.
    Ngoài ra, chúng ta có thể đến 2 chùa lớn là:
      1. Chùa Tiên Hương: Ngôi chùa lớn nhất quần thể đã cơ bản được trung tu xong với kiến trúc hết sức độc đáo.
      2. Chùa Linh Sơn: Ngôi chùa cổ nằm trên núi.

 Phủ Tiên Hương

        Quần thể di tích Tâm Linh phủ Dầy có đến 4 địa điểm chính thờ Mẫu Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là nơi thờ chính của Mẫu Liễu Hạnh, là nơi thờ Mẫu và bên chồng của Mẫu. Phủ Vân Cát là nơi thờ Mẫu và bên ngoại của Mẫu (bên bố mẹ đẻ). Phủ Bóng Nguyệt Du cung là nơi hiển linh của Mẫu sau khi hóa. Lăng Mẫu là nơi quàn của Mẫu sau khi về trời. Như vậy, có thể coi Phủ Tiên Hương là nơi thờ chính của Mẫu Liễu Hạnh.
Phủ Tiên Hương

      Phủ chính Tiên Hương được triều đình cho phép xây lập đền thờ 1642. Lúc đó phủ còn hết sức đơn sơ. Từ thời Lê Cảnh Trị (1663 – 1671) đến năm 1841 được chuyển thành công trình gạch ngói. Năm Duy Tân thứ chín (1915) do tổng đốc Đoàn Triển cho xây dựng lớn như ngày nay. Phủ Tiên Hương tuy qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được dấu tích của phủ cổ trước kia.
        Hiện nay, Phủ chính Tiên Hương còn lưu giữ 15 đạo sắc phong thần cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đạo sớm nhất ghi ngày 10 tháng chạp năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730) phong Thánh Mẫu là Mã Vàng Công Chúa thượng đẳng thần, muộn nhất là đạo sắc ghi ngày 25/7/1924, năm Khải Định cửu niên phong Đức Thánh đệ Tam – Ngọc nữ Quang cung Quế Anh. Trong Phủ chính Tiên Hương còn lưu giữ nhiều cổ vật ghi rõ đây là phủ chính thờ Mẫu tại nơi Mẫu đầu thai. Đó là chiếc ấn đồng cổ đúc từ hàng trăm năm trước, trên ấn có hai chữ Hán ở lưng ấn: Phủ chính, nhiều cổ vật sứ cổ được khắc chữ nhấn mạnh đây là đồ tế tự của phủ chính…

Phủ Vân Cát

      Đền được xây dựng từ thời vua Lê Cảnh Thịnh (1663 - 1671). Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794 - 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. Đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự Đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại. Năm Thành Thái thứ 10 (1898) đền phủ bị hư hại nhiều vì mưa gió nên các quan huyện... cùng các bậc thân hào đứng ra sửa. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) thì hoàn thành.

Ngũ Môn Phủ Vân Cát

 Lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh:  

      Lăng được xây dựng vào thời Vua Minh Mệnh ( 1820 - 1840) với ban đầu chủ là một bệ nhỏ. Năm 1937, vua Bảo Đại hưng công xây dựng, tu bổ. "Tương truyền năm 1937, Vua Bảo Đại lấy vợ đã lâu nhưng không có con nên Nam Phương Hoàng Hậu đến cầu tự ở Đền Sòng và được Mẫu ban cho Hoàng Tử Bảo Long. Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã báo mộng cho Hoàng Hậu biết mộ của mình ở ngôi Miếu xứ cây đa Phủ Dầy.

Lăng Mẫu Liễu Hạnh

 Để trả ơn đó Vua Bảo Đại đã cho dựng lăng để tạ ơn Mẫu Liễu Hạnh. Khu lăng Mẫu được xây hoàn toàn bằng đá xanh và 60 búp sen hồng”.

Phủ Bóng- Nguyệt Du Cung

      Phủ Bóng còn gọi là Nguyệt Du Cung. Tương truyền sau khi đã về trời,  vào những đêm trăng sáng Liễu Hạnh công chúa lại dẫn một đoàn tiên nữ xuống quây quần múa hát bên gốc cây đa. Dân làng thầm lặng dõi theo dần dần nhận ra đây là điềm linh thiêng, linh ứng mới bàn nhau lập miếu thờ dưới gốc cây đa nên thường gọi là đền Cây Đa Bóng hay Phủ Bóng.
Tam Quan Phủ Bóng Nguyệt Du Cung

     Sau đó những người thường thấy Tiên Chúa và tiên nữ múa hát dưới trăng lại đặt tên đền là Nguyệt Du Cung.

Các lần giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh

     Mẫu Liễu Hạnh có 3 lần giáng sinh: 
     +Lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên Nam Định. Bà có tên Phạm Tiên Nga và hưởng thọ 40 tuổi.
     +  Lần thứ hai bà giáng vào nhà họ Lê ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định. Bà kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời.
     + Lần thứ ba bà giáng hiện tại Nga Sơn, Thanh Hóa hạ trần để tái hợp cùng Mai Sinh là hậu kiếp của Trần Đào Lang được hơn một năm thì mãn hạn hồi tiên.
     Quần thể di tích tâm linh Phủ Dày là nơi Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ hai và được coi là nơi thờ chính của Mẫu Liễu Hạnh.

Thần tích về sự giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Dầy

      Truyền thuyết kể rằng: Tại thôn Vân Cát có gia đình ông Lê Thái công, vợ là Trần Thị Phúc ăn ở hiền lành, chuyên lo việc thiện đức. Họ chính là đầu thai chuyển thế của cha mẹ họ Phạm của Mẫu ở Vỉ Nhuế năm xưa.
Phủ Vân Cát
      Khi hơn 40 tuổi, bà mới mang thai lần hai. Kỳ lạ là lần này đến kỳ mang thai này bà ông ăn được thịt cá, chỉ ăn hoa quả. Quá kỳ sinh nở mấy tháng mà không thấy sinh, ông Lê Thái Công tưởng ma quỷ nhiễu hại bèn mời thầy phù thủy về trừ tà nhưng bà vẫn không sinh.
     Một ngày thượng tuần tháng tám, đêm thanh trăng tỏ, có một đạo nhân ăn mặc lạ kì xin vào chữa bệnh, Lê Thái công nghe thấy liền mời vào, thiết lập hương án. Đạo nhân xõa tóc hành pháp, rồi rút búa trong tay ném xuống đất. Thái công tức thì mê man và thiếp đi. Trong khi thiếp đi ông đã mơ được lên Thiên đường và thấy một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần lỡ tay đánh rơi vỡ một chiếc chén ngọc của Ngọc Hoàng. Khi tỉnh mộng thì đã lúc canh tàn, bà đã sinh ra một nữ tử, hương thơm ngào ngạt, ai ai cũng lấy làm vui mừng. Mọi người nhhìn quanh thì không thấy đạo nhân đâu nữa.
Lễ Hội Phủ Dầy
      Khi đó là giờ Dần ngày 15 tháng 8 năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiên Hựu nguyên niên triều vua Lê Anh Tông (1557). Ông Thái công mới đặt Tiên chúa tên Thắng hiệu Giáng Tiên.
      Giáng Tiên lớn lên trở thành một người con gái sắc đẹp tuyệt trần, nết na ưa nhìn, hiền lành thục nữ, trần gian hiếm có người nào như vậy. Không những vậy kinh văn sách sử, học vấn của Người cũng uyên thâm khó bậc nam nhi nào sách so được. Cầm, kì, thi, họa mọi thứ Người đều am tường thấu tỏ tường tận.
    Một hôm nhân nghe tiếng đàn của Tiên chúa gẩy, chợt Thái công nhớ tiếng đàn này giống tiếng đàn năm xưa khi ông nằm mộng lên Thiên đình, nghĩ con gái mình chắc chắn là người nhà trời, sợ rằng sẽ khó nuôi, nên đem cho ông Trần Công làm nghĩa nữ.

Ngày xuân ở Phủ Tiên Hương
    Có hai vợ chồng ông Trần lão quan gần làng bên, không con cháu, một hôm dạo chơi gió mát trăng thanh, tự nhiên thấy ai bỏ một đứa trẻ ở bên gốc đào, ông Trần lão quan mới đem về nuôi đặt tên là Trần Đào Lang.
     Đến năm Quý Dậu (1573) Gia Thái nguyên niên triều Lê Thế Tông, chàng Đào Lang 21 tuổi, đức Tiên chúa 17 tuổi, nhân lúc Trần Đào Lang sang nhà Trần lệnh công, thấy Tiên chúa đẹp tuyệt trần lại tài hoa vẹn đủ mới đem lòng yêu mến, mới đến cầu hôn.
     Thoạt đầu, Tiên chúa không ý định thành hôn, chỉ muốn ở với mẹ cha phụng dưỡng, nhưng sau đó cha mẹ vun vào, và cũng cảm mến chàng Đào hiếu học, Tiên chúa đồng ý và hôn lễ được tác thành khi Tiên chúa 18 tuổi.

Ngày xuân ở Phủ Vân Cát
    Về gia đình chồng, luôn giữ phép với cha mẹ chồng, giữ đạo vợ chồng, cuộc sống hạnh phúc và hai người đã khai sinh ra một nam tử đặt tên Trần Nhân, cảnh gia đình thật vui vầy sướng ca.
    Nhưng mãn hạn cõi trần gian, Tiên chúa không bệnh mà mất, hưởng dương được 21 tuổi, Chúa hồi loan vào giờ Dần ngày 03 tháng 03 năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái ngũ niên triều vua Lê Thế Tông (1577).




Phủ Vân Cát

       Phủ Vân Cát là một di tích chính nằm trong Quần thể du lịch tâm linh Phủ Dầy. Phủ Vân Cát nằm ở phía bắc thôn Vân Cát thuộc xã Kim Thái, cách Phủ Tiên Hương chừng 1 km. Từ Phủ Tiên Hương đi thẳng tới ủy ban nhân dân xã Kim Thái, bên phải đi tới Lăng Mộ Thánh Mẫu, còn đi về bên trái là đi tới Phủ Vân Cát.

Ngũ Môn Phủ Vân Cát
       Khu di tích tâm linh Phủ Dầy là nơi tâm linh gắn liền với sự giáng sinh lần thứ hai của Mẫu Liễu Hạnh. Tại Phủ Dầy, phủ Tiên Hương là nơi thờ chính của Mẫu, gắn liền với quê chồng của Mẫu. Phủ Vân Cát là nơi thờ bên ngoại của Mẫu tức là nơi Mẫu được sinh ra. Riêng thân phụ và thân mẫu của Mẫu được thờ tại Phủ Tổ.

Lầu Phương Du trước Ngũ Môn của Phủ Vân Cát

Lịch sử Phủ Vân Cát

      Đền được xây dựng từ thời vua Lê Cảnh Thịnh (1663 - 1671). Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794 - 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. Đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự Đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại. Năm Thành Thái thứ 10 (1898) đền phủ bị hư hại nhiều vì mưa gió nên các quan huyện... cùng các bậc thân hào đứng ra sửa. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) thì hoàn thành.


 Kiến trúc Phủ Vân Cát

      Phủ Vân Cát là một công trình kiến trúc quy mô, được xây biệt lập trên một khu đất rộng gần một hecta. Phủ Vân Cát quay về hướng Tây Bắc, trước mặt là cánh đồng lúa. Kiến trúc phủ Vân theo kiểu “nội trùng thiêm, ngoại chữ quốc”, nghĩa là các toà nhà chính bên trong song song chung thềm, hai bên có hành lang nhà ngang, mặt trước có ngọ môn khép kín.

Mái phủ cổ kính của Phủ Vân Cát

     Tuy bị hư hỏng nặng, nhưng đến nay Phủ Vân vẫn còn bảy toà với ba mươi gian lớn nhỏ. Cung Đệ Nhất mái cong, làm theo kiểu chồng diêm tám mái. Trên các thành phần kiến trúc được chạm khắc phượng múa theo nhiều dáng, “quy” (rùa) ẩn hiện nơi ao sen, bầy “ly” vui đùa uốn lượn ở các góc xà, đầu bẩy...

Tượng Ngũ Vị tôn Ông trong Phủ Vân Cát

    Hệ thống cửa Ngọ môn xây dựng theo kiểu chồng diêm ba tầng, với hàng chục cột trụ, năm gác lâu, tường bao quanh, nhiều văn bia được đặt dưới Ngọ Môn, ghi chép về việc Bà chúa Liễu giáng sinh và sự đóng góp tiền của những người hảo tâm xây dựng đền. Phía ngoài Ngọ Môn có hồ bán nguyệt, giữa hồ là thủy lâu, ba gian, mái cong. Công trình này được gia công rất công phu, từ viên đá ghép móng, hệ thống lan can chung quanh hồ với các họa tiết “tứ linh”, “tứ quý”, đến hai cầu đá bắc qua hai đầu hồ vào thủy lâu cũng thể hiện tài nghệ của các nghệ nhân xưa.

Một góc của Ngũ Môn của Phủ Vân Cát

     Nội phủ có bốn cung. Cung đệ nhất và cung đệ nhị đều ba gian, được tôn tạo và mở rộng từ đời Tự Đức năm Kỷ Mão (1879). Cả hai cung này đều bị giặc Pháp phá hủy bằng ném bom, năm 1959 dân làng xây dựng lại cung đệ nhất còn cung đệ nhị mới được tôn tạo lại năm 1992. Cung đệ nhất là chính cung khép kín, cung này thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải. Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái). Tiếp là cung đệ tam, tại đây thờ Công đồng tứ Phủ, cung này có thờ Bà Chúa Bản đền. Cung đệ tứ hay còn gọi là tòa bái đường, cung này có thờ Quan Giám sát.

Một cung thờ trong Phủ Vân Cát

      Trong Phủ còn lưu giữ được nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, hệ thống văn bia ở Phủ Vân Cát rất có giá trị về lịch sử đặt dưới ngũ vân lâu ba tầng ở mặt tiền. Cùng với hệ thống đồng trụ tường hoa khiến tổng công trình nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc ở đây bố cục chặt chẽ – là di tích xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.
       Khi chúng ta đã đến thắp hương tại Phủ Vân Hương chúng ta có đi qua Phủ Tổ. Phủ Tổ là một ngôi đền đặc sắc bằng đá thờ thân phụ và thân mẫu của Mẫu Liễu Hạnh.





Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Đền Quan Hoàng Chín

         Đền Quan Hoàng Chín hay còn gọi là Đền Ông Chín Cờn, hay Đền Cờn Ngoài thuộc xã Quỳnh phương Huyện Quỳnh lưu Nghệ an. Đền thờ Quan Hoàng Chín tức thánh hoàng thứ chín trong Tứ Phủ Quan Hoàng.

       Lưu ý thêm rằng tại xã Quỳnh Phương có hai ngôi đền: Đền Cờn trong còn gọi là Đền Mẫu Cờn thờ Mẫu Dương Quý Phi, Đền Cờn ngoài thờ Ông Chín Cờn và vua quan nhà Nam Tống. Đền Cờn ngoài nằm sát bờ biển. Đền Cờn trong nằm trong đất liền. Hai ngôi đền cách nhau hơn một cây số.

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Phủ Tây Hồ

      Phủ Tây Hồ thuộc thôn Tây Hồ, nay là phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Phủ Tây Hồ cách trung tâm Thủ đô khoảng 4km về phía Tây. Phủ nằm trên bán đảo lớn của làng Nghi Tàm, nhô ra giữa Hồ Tây, trước là đất của một làng cổ của kinh thành Thăng Long nằm ở phía Đông của hồ Tây nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ - Hà Nội.

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

CHẦU BÉ BẮC LỆ LÀ AI

        Chầu Bé Bắc Lệ. Chầu Bé vốn gốc người Nùng, dưới thời Lê Thái Tổ, chầu giáng sinh xuống miền Bắc Lệ, Lạng Sơn

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

ĐỀN VOI PHỤC

          Ngày 20 tháng 9 năm 2013, đền Voi Phục - Thụy Khuê đã làm lễ Trấn trạch sau gần 3 năm Trùng tu.  Dưới đây là một số hình ảnh của buổi lễ.

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

ĐỀN MẪU KỲ ANH

       Đền Mẫu Kỳ Anh thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu. Đây là một di tích lịch sử, đã được dựng lên cách đây trên sáu trăm năm tại xã Kỳ Ninh - Kỳ Anh - Hà Tĩnh.

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN THỊ NGHI NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA

        Sáng ngày 18/8/2013, tại hội trường Ủy ban Nhân dân xã Lạc Long - Kinh Môn - Hải Dương, Đảng ủy và Ủy ban Nhân Dân xã Lạc Long đã tổ chức buổi lễ " Kỷ niệm 68 năm Cách mạng Tháng tám - Quốc Khánh 2/9 và trao Huân Chương Lao động hạng 3 cho Bà Nguyễn Thị Nghi".

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

CÁC BAN TRONG ĐIỆN THỜ THÁNH MẪU

          Nếu tính đầy đủ thì có 9 ban thờ trong điện thờ Thánh Mẫu. Tuy vậy,thường các đền chỉ thờ một số ban và các ban thường thường không thờ đủ các vị thánh.

TỨ PHỦ THÁNH CẬU

          Là các vị Thánh với hình tượng nam thiếu niên tinh nghịch. Tứ Phủ Thánh Cậu gồm thập nhị vị (mười hai Thánh Cậu). Tuy nhiên, tài liệu về nhân thân của các cậu hầu như không có tài liệu kể cả các giai thoại lưu truyền. Các cậu thường được phối thờ ở cung cậu tại các đền phủ, rất ít có đền thờ riêng các cậu.

QUAN HOÀNG MƯỜI LÀ AI

          Quan Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An, Thánh Ông Hoàng Mười. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. 

Quan ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

       Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh. Hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình.

Sự tích Mẫu Liễu Hạnh

         Căn cứ vào ”Quảng Cung linh từ phả ký”, “Quảng Cung linh từ bi ký” và “Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Đính sưu tầm, được Hội đồng khoa học lịch sử Nam định thẩm định thân thế và sự tích Mẫu Liễu Hạnh như sau:


QUAN HOÀNG BẨY

         Quan Hoàng Bẩy được thờ tại đền Bảo Hà, Lao Cai. Quan Hoàng Bảy còn được gọi là Ông Bẩy, Ông Bẩy Bảo Hà, Thánh Ông Hoàng Bảy. Ổng Bảy đươc coi là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông là thứ bảy trong Tứ Phủ Thánh Hoàng nên gọi ông là Ông Bảy.